97 lượt xem

SỰ HẤP THU FOLATE TRONG CƠ THỂ

Folate trong chế độ ăn uống tồn tại chủ yếu ở dạng polyglutamyl (có chứa một số dư lượng glutamate), trong khi acid folic dạng vitamin tổng hợp là một loại monoglutamate, chỉ chứa một nửa glutamate. 

Sự hấp thu của Folate trong cơ thể

           Chuyên mục Tin tức Y Dược cập nhật: Folate tự nhiên là các phân tử giảm, trong khi acid folic bị oxy hóa hoàn toàn. Những khác biệt hóa học này có ý nghĩa quan trọng đối với khả dụng sinh học của vitamin, do đó acid folic có khả dụng sinh học cao hơn đáng kể so với folate thực phẩm tự nhiên ở mức tiêu thụ tương đương.

            Sự hấp thu folate trong chế độ ăn uống ở ruột là một quá trình gồm hai bước liên quan đến quá trình thủy phân folate polyglutamate thành các dẫn xuất monoglutamyl tương ứng, sau đó là quá trình vận chuyển chúng vào các tế bào ruột. Ở đó, acid folic được chuyển đổi thành folate tự nhiên, cụ thể là 5-methyltetrahydrofolate, là dạng folate lưu thông chính trong cơ thể con người.

            Khả dụng sinh học của folate tự nhiên vốn đã bị hạn chế và thay đổi. Có nhiều sự khác biệt về mức độ dễ dàng giải phóng folate từ các chất nền thực phẩm khác nhau và “đuôi” polyglutamyl bị loại bỏ (khử liên hợp) trước khi được các tế bào ruột hấp thụ. Ngoài ra, các thành phần dinh dưỡng khác có thể góp phần làm mất ổn định folate không bền trong quá trình tiêu hóa. Kết quả là folate tự nhiên có sinh khả dụng không đầy đủ so với acid folic. Ngược lại, sinh khả dụng của acid folic được giả định là 100% khi ăn vào dưới dạng thực phẩm bổ sung, trong khi acid folic trong thực phẩm tăng cường vi chất được ước tính có khoảng 85% sinh khả dụng của acid folic bổ sung.

Sự vận chuyển Folate trong cơ thể

            Folate và các coenzym của nó yêu cầu các chất vận chuyển đi qua màng tế bào. Các chất vận chuyển folate bao gồm chất mang folate đã khử (RFC), chất vận chuyển folate kết hợp proton (PCFT) và các protein thụ thể folate, FRα và FRβ. Cân bằng nội môi folate được hỗ trợ bởi sự phân bố phổ biến của các chất vận chuyển folate, mặc dù mức độ phong phú và tầm quan trọng khác nhau giữa các mô. PCFT đóng một vai trò quan trọng trong việc vận chuyển folate ở ruột do các đột biến ảnh hưởng đến PCFT mã hóa gen gây ra tình trạng kém hấp thu folate di truyền. Khiếm khuyết PCFT cũng dẫn đến suy giảm khả năng vận chuyển folate vào não. FRα và RFC cũng rất quan trọng đối với việc vận chuyển folate qua hàng rào máu não khi folate ngoại bào thấp hoặc cao tương ứng. Folate rất cần thiết cho sự phát triển thích hợp của phôi thai và thai nhi. Nhau thai được biết là nơi tập trung folate cho tuần hoàn của thai nhi, dẫn đến nồng độ folate ở thai nhi cao hơn so với ở phụ nữ mang thai. Cả ba loại thụ thể đều có liên quan đến việc vận chuyển folate qua nhau thai trong thời kỳ mang thai.

<center><em>Hình. Sự chuyển hoá Folate trong cơ thể</em></center>

Hình. Sự chuyển hoá Folate trong cơ thể

Nguyên nhân thiếu hụt Folate

           Giảng viên Liên thông Cao đẳng Dược TPHCM cho biết: Thiếu folate thường do chế độ ăn uống thiếu chất; tuy nhiên, thiếu folate cũng có thể xảy ra trong một số tình huống khác. Ví dụ, uống rượu nhiều và mãn tính có liên quan đến việc giảm hấp thu folate (ngoài chế độ ăn uống ít), điều này có thể dẫn đến thiếu hụt folate. Hút thuốc cũng liên quan đến tình trạng folate thấp. Trong một nghiên cứu, nồng độ folate trong máu ở những người hút thuốc thấp hơn khoảng 15% so với những người không hút thuốc. Ngoài ra, việc vận chuyển folate đến thai nhi bị suy giảm đã được mô tả ở những phụ nữ mang thai hút thuốc hoặc lạm dụng rượu trong thời kỳ mang thai.

            Mang thai là thời điểm mà nhu cầu folate tăng lên rất nhiều để duy trì nhu cầu sao chép tế bào nhanh chóng và sự phát triển của mô bào thai, nhau thai và mẹ. Các tình trạng như ung thư hoặc viêm nhiễm cũng có thể dẫn đến tăng tốc độ phân chia và chuyển hóa tế bào, làm tăng nhu cầu folate của cơ thể. Hơn nữa, thiếu folate có thể do một số tình trạng kém hấp thu, bao gồm bệnh viêm ruột (bệnh Crohn và viêm loét đại tràng) và bệnh celiac. Một số loại thuốc cũng có thể góp phần gây thiếu folate. Cuối cùng, một số bệnh di truyền ảnh hưởng đến sự hấp thụ, vận chuyển hoặc chuyển hóa folate có thể gây thiếu folate hoặc cản trở chức năng chuyển hóa của nó.

Triệu chứng khi thiếu hụt Folate

            Thiếu folate lâm sàng dẫn đến thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, có thể đảo ngược khi điều trị bằng acid folic. Các tế bào phân chia nhanh như những tế bào có nguồn gốc từ tủy xương dễ bị tổn thương nhất trước tác động của việc thiếu folate vì quá trình tổng hợp DNA và phân chia tế bào phụ thuộc vào coenzym folate. Khi nguồn folate cung cấp cho các tế bào phân chia nhanh chóng của tủy xương không đủ, quá trình phân chia tế bào máu sẽ giảm, dẫn đến các tế bào hồng cầu ít hơn nhưng lớn hơn. Loại thiếu máu này được gọi là thiếu máu megaloblastic hoặc macrocytic, đề cập đến các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành, mở rộng. Bạch cầu trung tính, một loại tế bào bạch cầu, trở nên quá phân đoạn, một sự thay đổi có thể được tìm thấy bằng cách kiểm tra mẫu máu dưới kính hiển vi.

<center><em>Hình. Bệnh thiếu máu hồng cầu khổng lồ</em></center>

Hình. Bệnh thiếu máu hồng cầu khổng lồ

            Bởi vì các tế bào hồng cầu bình thường có thời gian tồn tại trong tuần hoàn khoảng bốn tháng, nên có thể mất vài tháng để những người thiếu folate phát triển bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ đặc trưng. Sự tiến triển của tình trạng thiếu máu như vậy dẫn đến giảm khả năng vận chuyển oxy của máu và cuối cùng có thể dẫn đến các triệu chứng mệt mỏi, suy nhược và khó thở. Điều quan trọng là phải chỉ ra rằng bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ do thiếu folate giống hệt với bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ do thiếu vitamin B12, và cần có thêm xét nghiệm lâm sàng để chẩn đoán nguyên nhân thực sự của bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ.

            Những người ở giai đoạn đầu của tình trạng thiếu folate có thể không biểu hiện các triệu chứng rõ ràng, nhưng nồng độ homocysteine trong máu có thể tăng lên. Tuy nhiên, nồng độ homocysteine trong tuần hoàn không phải là một chỉ số cụ thể về tình trạng folate, vì homocysteine tăng cao có thể là kết quả của sự thiếu hụt vitamin B12 và các vitamin B khác, các yếu tố lối sống và suy thận. Sự thiếu hụt cận lâm sàng thường được phát hiện bằng cách đo nồng độ folate trong huyết thanh/huyết tương hoặc trong hồng cầu.

Sưu tầm Thạc sĩ Trần Thị Minh Tuyến – Giảng viên Cao đẳng Y Dược TPHCM

Bệnh viện thẩm mỹ Gangwhoo Bệnh viện thẩm mỹ Gangwhoo Bệnh viện thẩm mỹ Gangwhoo Bệnh viện thẩm mỹ Gangwhoo Bác sĩ Phùng Mạnh Cường Bác sĩ Phùng Mạnh Cường